Sự Khác Biệt Giữa Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, A La Hán

Sự Khác Biệt Giữa Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, A La Hán

Trong Kinh Đại Thừa thì có nói về Tứ Thánh là: 

1) Phật

2) Bồ Tát

3) Duyên Giác

4) A La Hán 

Các bậc Bồ Tát trong Thập Địa, Duyên Giác, A La Hán đã có Trí Huệ Thần Thông nhưng không bằng Đức Phật. Thần Thông Trí Huệ của các Bồ Tát, Duyên Giác, A La Hán thì còn có hạn lượng còn Thần Thông Trí Huệ của Đức Phật thì không có hạn lượng. 

Trong một thời trong một thế giới thì chỉ có một Đức Phật ra đời khi nào mà Chánh Pháp của Đức Phật đó diệt hết thì mới có một Đức Phật khác ra đời. 

Nhưng trong một thời trong một thế giới thì có thể có nhiều Bồ Tát, Duyên Giác, A La Hán cùng ra đời. 

Thí dụ như Đức Phật Thích Ca hiện ra ở cõi Ta Bà này thì khi nào mà Giáo Pháp của Đức Phật Thích Ca đã diệt hết thì lúc đó Đức Phật Di Lặc mới hiện ra đời. 

Các vị Duyên Giác chỉ hiện ở đời khi mà không có Phật Pháp ở tại thế gian. Các vị Duyên Giác không thuyết Pháp độ sanh như Đức Phật. 

Trong thời của Đức Phật thì có rất nhiều vị chứng quả Bồ Tát, A La Hán. 

Phật 

Là bậc giải thoát viên mãn khỏi hai thứ chướng ngại đó là Phiền Não Chướng và Sở Tri Chướng (còn gọi là Nhất Thiết Trí Chướng nói gọn là Trí Chướng). 

Phiền Não Chướng: Là Tham, Sân, Si, Vô Minh Thô còn gọi là Nhất Niệm Vô Minh. 

Sở Tri Chướng: Là sự chướng ngại chứng đắc Nhất Thiết Trí, sự chướng ngại này là Vô Minh Vi Tế còn gọi là Căn Bản Vô Minh hay là Vô Thủy Vô Minh.

Nhất Thiết Trí: Là Trí biết tất cả các Pháp Thế Gian và Pháp Xuất Thế Gian cùng tột quá khứ, hiện tại, vị lai không có ngăn ngại. 

Phật thì có đủ các đức tính sau đây: 

1) Ba Minh

2) Sáu Thông

3) Mười Trí Lực

4) Bốn Vô Sự Không Sợ

5) Mười Tám Pháp Chẳng Chung với Bồ Tát, Duyên Giác, A La Hán

 

Ba Minh: 

1) Thiên Nhãn Minh

2) Túc Mạng Minh

3) Lậu Tận Minh 

Sáu Thông: 

1) Thiên Nhãn Thông

2) Túc Mạng Thông

3) Tha Tâm Thông

4) Thần Túc Thông

5) Thiên Nhĩ Thông

6) Lậu Tận Thông

Bốn Vô Sự Không Sợ:

Bốn điều này Phật đối giữa loại chúng các hàng Thiên Ma, Phạm Thiên, Sa Môn, Bà La Môn, nói một cách tự tại không sợ ai, không ai nói được nên gọi là “Không Sợ”.

 1) Phật nói là hiểu biết tất cả pháp thế gian và xuất thế gian

2) Phật nói là hoặc nghiệp sanh tử đều biết hết và tự mình đã dứt sạch hết

3) Phật nói là các pháp ma ngoại là chướng thánh đạo

4) Phật nói những pháp có thể diệt hết các khổ.

 

Mười Tám Pháp Chẳng Chung với Bồ Tát, Duyên Giác, A La Hán

 

Mười Tám Pháp Chẳng Chung này chỉ có Phật chứng được mà chẳng chung đồng với hàng Bồ Tát, Duyên Giác, A La hán.

 

1) Thân không lỗi.

2) Miệng không lỗi.

3) Niệm không lỗi.

4) Không có tâm tưởng khác.

5) Không có tâm bất định.

6) Không có tâm không biết.

7) Sự muốn không giảm.

8) Tinh tấn không giảm.

9) Niệm không giảm.

10) Huệ không giảm.

11) Giải thoát không giảm.

12) Giải thoát tri kiến không giảm.

13) Tất cả thân nghiệp theo trí tuệ mà hành động.

14) Tất cả khẩu nghiệp theo trí tuệ mà hành động.

15) Tất cả ý nghiệp theo trí tuệ mà hành động.

16) Trí tuệ biết đời vị lai không ngại,

17) Trí tuệ biết đời quá khứ không ngại.

18) Trí tuệ biết đời hiện tại không ngại.

 

Bồ Tát là các bậc phát Bồ Đề Tâm tu tập 10 Ba La Mật hồi hướng Phật Quả nguyện làm lợi ích cho tất cả chúng sanh. 

Tất cả chúng sanh nếu muốn tu hành thành Phật thì đều phải trải qua các bậc Bồ Tát là: Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Tứ Gia Hạnh Vị, Thập Địa, Đẳng Giác, Diệu Giác (Phật) 

Đây là các bậc Bồ Tát từ thấp đến cao: 

Thập Tín Bồ Tát

 

1-Tín Tâm

2-Niệm Tâm

3-Tinh Tấn Tâm

4-Huệ Tâm 

5-Định Tâm

6-Bất Thối Tâm

7-Hộ Pháp Tâm

8-Hồi Hướng Tâm

9-Giới Tâm

10-Nguyện Tâm

 

Thập Trụ Bồ Tát

 

1-Phát Tâm Trụ

2-Trị Địa Trụ

3-Tu Hành Trụ

4-Sanh Quý Trụ

5-Phương Tiện Cụ Túc Trụ

6-Chánh Tâm Trụ

7-Bất Thối Trụ

8-Đồng Chân Trụ

9-Pháp Vương Tử Trụ

10-Quán Đảnh Trụ

 Trong kinh Đại Bát Niết Bàn thì bậc Bồ Tát Quán Đảnh Trụ mới chứng nhập chút ít phần về Phật Tánh. 

Thập Hạnh Bồ tát

 

1-Hoan Hỉ Hạnh

2-Nhiêu Ích Hạnh

3-Vô Sân Hận Hạnh

4-Vô Tận Hạnh

5-Ly Si Loạn Hạnh

6-Thiện Hiện Hạnh

7-Vô Trước Hạnh

8-Tôn Trọng Hạnh

9-Thiện Pháp Hạnh

10-Chân Thật Hạnh

 

Thập Hồi Hướng Bồ Tát

 

1-Cứu Hộ Nhất Thiết Chúng Sanh, Ly Chúng Sanh Tướng Hồi Hướng

2-Bất Hoại Hồi Hướng

3-Đẳng Nhất Thiết Phật Hồi Hướng

4-Chí Nhất Thiết Xứ Hồi Hướng

5-Vô Tận Công Đức Tạng Hồi Hướng

6-Nhập Nhất Thiết Bình Đẳng Thiện Căn Hồi Hướng

7-Đẳng Tùy Thuận Nhất Thiết Chúng Sanh Hồi Hướng

8-Chân Như Tướng Hồi Hướng

9- Vô Trước Vô Phược Giải Thoát Hồi Hướng

10-Nhập Pháp Giới Vô Lượng Hồi Hướng

 

Tứ Gia Hạnh Vị Bồ Tát

 

1-Noãn Địa

2-Đảnh Địa

3-Nhẫn Địa

4-Thế đệ Nhất Địa

 

Thập Địa Bồ Tát

 

1-Hoan Hỷ Địa – viên mãn Bố Thí Ba La Mật

2-Ly Cấu Địa – viên mãn Trì Giới Ba La Mật

3-Phát Quang Địa – viên mãn Tinh Tấn Ba La Mật

4-Diệm Huệ Địa – viên mãn Nhẫn Nhục Ba La Mật

5-Nan Thắng Địa – viên mãn Thiền Định Ba La Mật

6-Hiện Tiền Địa – viên mãn Bát Nhã Ba La Mật

7-Viễn Hành Địa – viên mãn Phương Tiện Ba La Mật

8-Bất Động Địa – viên mãn Nguyện Ba La Mật

9-Thiện Huệ Địa – viên mãn Lực Ba La Mật

10-Pháp Vân Địa – viên mãn Trí Ba La Mật

11-Đẳng Giác Địa (tức là Nhất Sanh Bổ Xứ Bồ Tát)

(còn gọi là Phổ Hiền Quang Minh Địa)

12-Diệu Giác Địa (tức là Phật)

(còn gọi là Tỳ Lô Giá Na Phổ Quang Minh Địa)

 

Bồ Tát từ bậc Hoan Hỷ Địa lên đến bậc Nan Thắng Địa về Phước Báo và Hạnh Nguyện độ sanh thì hơn bậc Duyên Giác và A La Hán nhưng về Trí Huệ thì chưa bằng. 

Bậc Bồ Tát Hiện Tiền Địa đã hết Phiền Não Chướng và Trí Huệ thì đồng với bậc Duyên Giác và A La Hán nhưng Phước Báo và Hạnh Nguyện độ sanh thì hơn bậc Duyên Giác và A La Hán. 

Bậc Bồ Tát từ Viễn Hành Địa trở lên thì đã hết Phiền Não Chướng mà chỉ còn Sở Tri Chướng. Bậc Bồ Tát từ Viễn Hành Địa trở lên về Phước Báo và Trí Huệ đều hơn bậc Duyên Giác và A La Hán.

 Các bậc Bồ Tát trong Thập Địa thì đều dùng trí huệ phá từng phần của Sở Tri Chướng.

Duyên Giác

 

Có hai bậc Duyên Giác 

1-Độc Giác

Là các vị trong kiếp có Đức Phật ra đời do nghe Đức Phật nói Pháp tu hành mà chứng được quả Tu đà Hoàn và còn có 7 lần sanh tử. Trong 7 lần sanh tử đó có khi sanh lên cõi trời mà cõi trời thì sống rất là lâu vì vậy nếu kiếp sau cùng khi sanh trở lại cõi người mà Phật Pháp đã bị diệt mất thì khi vị này chứng quả A La Hán thì không gọi là A La Hán mà gọi là Độc Giác. Độc Giác có nghĩa là tự chứng không có thầy, đây là nói lúc chứng đạo nhưng truy nguyên thì đã ngộ đạo từ nơi Đức Phật.

Bậc Độc Giác chỉ giải thoát khỏi Phiền Não Chướng chưa giải thoát khỏi Sở Tri Chướng. 

2-Duyên Giác 

Là các vị sanh trong kiếp không có Đức Phật ra đời mà tự mình quán lý 12 Nhân Duyên mà thành đạo. 

Bậc Duyên Giác chỉ giải thoát khỏi Phiền Não Chướng chưa giải thoát khỏi Sở Tri Chướng 

Trong kinh A Hàm, cũng như kinh Đại Thừa thì các vị Duyên Giác có Phước Báo nhiều hơn và Trí Huệ sâu hơn là các vị A La Hán bởi vì các vị Duyên Giác phải tu hành thì từ 40 đến 100 kiếp tích tập phước báo rồi mới thành đạo. 

A La Hán 

Là các vị sanh ra trong kiếp có Đức Phật ra được nghe Phật Pháp tu hành đắc quả. 

Bậc A La Hán chỉ giải thoát khỏi Phiền Não Chướng chưa giải thoát khỏi Sở Tri Chướng.

 

Vô Sanh Nhẫn

Vô sanh nhẫn còn gọi là Vô sanh pháp nhẫn

Tâm đã an trụ nơi lý Vô sanh vô diệt, tâm yên tịnh không dao động trước mọi nghịch cảnh, các vị từ Sơ địa Bồ tát cho đến Phật, đều không còn sanh ác tâm nhưng Sơ địa mới chứng cái danh Vô sanh nhẫn, Bát địa chứng ngộ thể Vô sanh nhẫn.

Tỏ được cái Chân Như Thật Tướng, gọi là đắc pháp Vô sanh. Tỏ được cái chân trí vô lậu, gọi là nhẫn, vì khi đã đắc được cái trí ấy, tâm mới có thể nhẫn được tất cả hoàn cảnh mà được tự tại vô ngại, nên gọi là Vô sanh nhẫn.

Vô sanh tức là không sanh không diệt. Nhẫn có nghĩa là tin nhận giữ gìn; là nói dùng trí vô lậu (không thô) an trú trong thể chân lý bất sanh bất diệt, tâm không lay động. Trong “Ðại Trí Ðộ luận”, quyển 50 nói: “Ðối thật tướng vô sanh diệt của các pháp, tin nhận thông suốt, không ngăn ngại, không thối lui, gọi là Vô sanh nhẫn”. 

13 comments on “Sự Khác Biệt Giữa Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, A La Hán

    • “diệt hết” theo sự hiểu biết hạn hẹp của mình là sự vắng bặt mọi niệm tưởng, ý thức thông thường, khi ấy mọi khái niệm nhị nguyên như sướng hay khổ, nên hay không nên, sinh tử và niết bàn…. đều tự tan biến, nhưng ko phải là sự trống ko như gỗ đá, mà vẫn tỉnh giác, sáng suốt vượt ngoài ngôn từ mô tả. Và như vậy đạt được giải thoát.

  1. Chủ Thớt có vẻ hiểu nhầm Từ “Duyên Giác” và “Alahan” nên phân biệt chúng là 2. Còn “Thanh Văn” Thì ko thấy nhắc đến trong bài viết là vì lý do gì.

    Bài viết thêm:

    Như chúng ta đã biết hiện giờ Phật giáo Đại thừa phát triển mạnh vì kèm theo nó là rất nhiều tông phái, thờ đủ loại phật nhằm đáp ứng mọi nhu cầu nguyện vọng của mọi tầng lớp phật tử. Vì vậy về những Phật tử tin, tu theo đạo phật, họ cứ nghe người nào nói gì là tin đó, nghe thầy này sư nọ nói là tin răm rắp không chút suy tư, không tí chất vấn , rồi truyền dạy lại tư tưởng lệch cho con cái. Cứ thế, đến giờ nhiều khi không ai hiểu họ đang thờ tượng ai, như thế nào mà thờ.

    Vì vậy tôi xin tóm lại một số ý kiến của riêng như sau: Tu theo phật là cốt là tìm con đường để hết khổ, thoát khỏi luân hồi, vậy con đường nào để giải thoát. Vâng chỉ có 1 con đường giải thoát , đó là diệt lậu: tức diệt hết tham sân si hận, diệt hết những ham muốn dục vọng , trong tâm chỉ còn lại sự an lạc, khi đó là đã đắc quả vào nơi “Niết bàn”. Mà Niết bàn, Cõi lưu ly, tịnh độ hay Tây phương Cực lạc, hay gì gì nữa cũng không tồn tại. Những danh từ đó chỉ là mượn từ thế gian để nói, thực ra đó chỉ là là 1 trạng thái an lạc của tâm, không dính mắc trần tục, không luân hồi nữa mà thôi.

    Phật đã từng là 1 chúng sanh bình thường như chúng ta , do nhân do quả mà có trên đời tức không có Phật thì vẫn có luân hồi , ngài chỉ là 1 mắc xích đã thoát ra khỏi chuỗi mắc xích vì vậy Ngài không có ảnh hưởng trực tiếp gì đến chúng ta, tức là dù chúng ta thờ cúng , vái lạy hay phỉ báng hay đập tượng thì vẫn không ảnh hưởng gì đến chúng ta nhưng nó mang theo các hệ quả :
    + Khi đó tâm ta sẽ hoặc thiện hoặc ác , ảnh hưởng đến nhân quả
    + Những người khác nhìn vào hành động của ta , hoặc vui hoặc buồn , hoặc khen ngợi hoặc mắng chửi, là do ta gây nhân, nên cũng ảnh hưởng trực tiếp đến nhân quả của ta.
    => Vì thế , tôi xin khẳng định , không cần đi chùa, mua cúng đủ thứ đồ đạc, hằng ngày niệm đủ thứ loại phật , chỉ cần tâm luôn rạng danh Ngài , kính trọng Ngài, xem ngài như một vị thầy học theo giáo pháp của Ngài thế là quá đủ phải không ạ.

    Thật là hồ đồ khi các thầy Đại Thừa bảo rằng các Alahan thua bồ tát , bảo rằng các Ngài ích kỉ chỉ tự độ mình không đi độ người khác. Chắc chắn 1 điều rằng các Ngài đã vô lậu , không còn ích kỉ , không còn ngại ngùng thì tại sao các Ngài lại làm thế? Nếu còn ích kỷ thì làm sao mà chứng được quả Alahan, không còn tài sinh luân hồi đúng không ạ. Còn nữa đó là chúng ta hay còn chấp vào danh từ nhiều quá nên khi nghe Alahan, bồ tát, phật, tiểu thừa, đại thừa, tối thượng thừa thì đêm tâm phân biệt, cái này hơn cái kia. Alahan cũng được, bồ tát cũng được, phật cũng được, chẳng phải mục tiêu của chúng ta là giải thoát, thoát khỏi luân hồi sinh tử sao. Biểu tượng cảm xúc smile. Hơn nữa, Vào thời Đức phật không có vị bồ tát nào cả , ít nhất tôi cũng chưa được thấy trong phật giáo Nguyên Thủy , Đức Phật xưng 10 danh hiệu của Ngài , trong đó không có 2 chữ ” Bồ tát” , ngài còn tự xưng là 1 Alahán , vậy mọi người đang chê Đức Thế Tôn tức Alahán ích kỉ đấy ư.

    Bài viết trên đây không có ý định châm biếm, đã kích bất chứ cái gì, chỉ hướng cho mọi người đang tìm hiểu, tu theo đạo phật cái nhìn sáng suốt về vấn đề giải thoát, khuyên mọi người sáng suốt hiểu được cách thế nào để thoát khổ xa hơn là thoát khỏi luân hồi. Mỗi người có một cái chánh kiến riêng cho mình đừng tin tất cả những gì mình nghe, mình đọc thấy từ quyển kinh này hay nhà sư này sư nọ, bởi vì tôi tin họ cũng chưa thể làm chủ được luân hồi, không độ được mình thì làm sao đi độ người khác phải không ạ. Đức Phật có nói: “Mỗi người hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi” hay “Pháp ta không có thời gian đến để mà thấy” là vậy. Thế mà hiện giờ tôi thấy nhiều nhà hễ có ai đó chết hay khó khăn gì thì mời các thầy về cầu an, cầu siêu biến đạo phật thành đạo mê tín từ khi nào. Thật buồn thay.

    Mô phật. chúc các bạn một ngày an lành, tinh tấn sáng suốt.

    • Tôi thấy ý kiến này rất hạn hẹp và thiếu Chính kiến, ko đúng vs thực tế. Thời này là Mạt pháp. Đạo đã giảm đi rất nhiều, tín tâm càng lúc càng sa sút, phúc ít chướng dày, chây lười ngả nghiêng. Vì thế mà sinh ra Pháp môn Tịnh độ, dành cho hạng người như chúng ta. Chẳng cần nghĩ nhiều, chăm lo niệm Phật một cách máy móc, lâu ngày sẽ có chứng ngộ. Rảnh rang thì đi chùa thắp hương, cúng dường bố thí, giữ Ngũ giới, hành Thập thiện, nhằm bồi đắp thêm phúc báo, diệt nghiệp chướng. Lúc lâm chug, Nhất tâm niệm Phật, sẽ được tiếp dẫn đến Tây phương Cực lạc,đến được đây, sẽ ko bị đọa trong luân hồi, cơ duyên tu học, chứng đắc về sau, các bậc danh Sư ngày trước. Biết mình trí tuệ, căn duyên chẳng bằng người xưa, khó chứng đắc, nên chỉ chăm niệm Phật,xiển dương Tịnh độ, dùng Thiền để an ổn tâm hồn chứ chẳng cầu chứng đắc như người xưa, bằng như chẳng Nhất tâm, cũng nhờ phúc báo, ko bị đọa trong tam ác đạo, được sinh ở thế giới tốt đẹp, có đầy đủ ngũ chi, có duyên nghe Pháp, ra sức tu tập, mới cầu chứng đắc. Tôi mạn phép hỏi, trí tuệ bạn liệu được bằng thầy Nhật Từ, hạnh nguyện liệu bằng Thầy Nhất Hạnh, Nguyện lực có bằng thầy Giác Nhàn, là những danh sĩ Việt Nam, vậy mà các thầy ấy vẫn ra sức hoằng dương Tịnh Độ, lấy Thiền để tăng Tuệ. Nay bạn nói ko cần niệm Phật, cúng bái, công quả chỉ cần tưởng cái Thực Tâm trong mình rồi cầu chứng đắc e rằng có phần ngạo mạn quá chăng? Rồi lúc nhà có việc, ko mời các thầy đến để trợ lực tiếp dẫn, liệu chăng bạn đã chứng đắc được Chân thật tâm,cho rằng mê tín thật sai lầm. Tôi nhân đây viết mấy lời này để người sơ tâm vào Đạo, ko gặp được Minh Sư chỉ bảo, đành tự tìm qua internet, thấy được mấy lời của bạn, liền ko niệm Phật, ko trì giới, hành Thập thiện, chỉ lo quán tưởng cái Chân tâm mà ko biết mình phúc mỏng chướng dày, hệu căn chưa sáng tỏ, dễ bị đọa lạc, mất đi nhân duyên biết Pháp, hoang phí đời người, và bạn cho rằng cần thoát xa hơn luân hồi chứ ko chỉ cần thoát khỏi luân hồi. Tôi cho rằng thoát khỏi luân hồi đi thì mới nghĩ tiếp được, chưa thoát khỏi luân hồi mà cầu khế nhập chân như ví ngang bằng người chưa đỗ đại học đã cầu làm quan lớn. Nếu bạn muốn biết thêm, tìm hiểu kĩ, xin mời đọc cuốn Trúc song tùy bút của Tổ Vân Thê Chu Hoành, đừng làm nhụt chí kẻ sơ tâm. nếu muốn phản biện, xin mời mail lại cho tôi.

      • Cảm ơn bạn đã để lại lời bình. Mục này nếu đọc kĩ có nhiều người bình luận, mỗi người 1 ý kiến khác nhau nên chủ trang tôn trọng tuyệt đối những nhận định của từng người, đều công khai mọi lời bình 1 cách trung thực.

        Cá nhân mình, tôi xin làm rõ lại về lời bình của bạn: Của các bạn khác tôi không có ý kiến, nhưng tôi có đọc kiểm tra lại những lời bình của mình, tôi không hề có 1 lời nào nói rằng bác bỏ pháp môn niệm Phật Tịnh Độ, không hề bác bỏ nói không phải trì Ngũ Giới, Thập Thiện. Vì mình là người tu Phật, cần chính xác về thân, khẩu, tâm nghiệp nên mong bạn kiểm tra lại cẩn thận. Có lời bình của bạn Phật Tại Tâm ghi là có ý là không cần cầu ngoài… thì đó là của bạn Phật Tại Tâm như tôi có nói tôn trọng giữ nguyên bình luận, cũng như bạn bình luận tôi cũng xin giữ nguyên cả lời đóng góp, bình luận dù tốt hay xấu.

        Để làm rõ lại quan điểm của mình, tôi có nói một người tu Phật đúng đắn sẽ không bao giờ chê bai, hay coi thường các pháp môn khác nhau của Phật, dù đó là pháp Thiền quán Minh Sát Vipashyana của Phật Giáo Nguyên Thủy, hay pháp niệm Phật Tịnh Độ Tông của Đại Thừa, hay các pháp Mật Tông Kim Cương Thừa… Và tất cả các pháp đó đều phải giữ giới nghiêm minh.

        Tôi đã từng tu Tịnh Độ, muốn tu Tịnh Độ người tu phải có Tín, Nguyện và Hành (hoặc Hạnh). Tín là tin Phật Vô Lượng Quang Amitabha (Việt nam dịch là Phật A Di Đà từ Phạn ngữ Amitabha, Trung Hoa đọc Amitopho, tôi xin dùng tiếng Phạn ngữ gốc), tin thế giới Tây Phương Cực Lạc, tin vào 48 đại nguyện của Ngài. Nguyện là phát nguyện sinh về cõi Tây Phương của Ngài. Hạnh hay Hành là phải thực hành pháp của Ngài: gồm niệm Hồng Danh Ngài, giữ Ngũ Giới, Thập Thiện. Khi đủ 3 điều này, Tâm niệm gì thì sẽ câu thông, kết nối và trở thành niệm đó, tâm niệm Phật thì sớm hay muộn cũng thành Phật. Và lên cõi Tịnh Độ, hóa sinh trong hoa sen rồi tùy căn cơ, nghiệp báo mà đi vào 9 phẩm, tới đó chúng sinh tiếp tục tu học với các vị Phật, Đại Bồ Tát bất thoái chuyển. Khi học đắc quả, sẽ lại giống như Chư Phật, Bồ Tát lưu xuất ra các thân khác nhau cứu độ chúng sinh 6 nẻo.

        Do đó, mọi pháp môn dù khác nhau đều dẫn về 1 đích Phật nếu người tu hành giữ giới đúng, thực hành đúng với Pháp môn đó. TÔi không bao giờ bác bỏ việc giữ giới hay chê bai các pháp khác.

        Ngoài cõi Tây Phương của Đức Phật Vô Lượng còn có cõi Tịnh độ Potala (Phổ Đà) Của Đức Quán Tự Tại Avalokiteshvara nằm ở phía dưới cõi Tây Phương, có cõi Diệu Lạc Hỷ Quốc của Đức Phật Bất Động Akshobhya nằm ở phía Đông, cõi Tịnh Độ Lưu Ly Trang Nghiêm của Phật Dược Sư ở phía Đông, cõi Tịnh Độ phương Nam của Phật Bảo Sanh Ratnasambhava, cõi Liên Hoa Quang ở Núi Huy Hoàng Màu Đồng Đỏ của Đức Padmasambhava Liên Hoa Sanh… có vô vàn Tịnh độ khác nhau trong pháp giới vô cực biên này.

        Nên tùy theo căn cơ, tâm nguyện của mỗi chúng sinh ứng hợp với vô số nguyện lực Bồ Đề Tâm bi mẫn của chư Phật, Bồ Tát mà hóa độ, tiếp dẫn vậy.

        Mong các bạn đạo khác nhau, khi bình luận có thể tự do đưa quan điểm của mình để cùng học hỏi, giúp đỡ nhau nhưng tuyệt đối tránh việc coi thường, đả kích hay thông tin không chính xác dẫn đến hiểu lầm. Chúng ta là người tu Phật, dù 1 chúng sinh nhỏ bé cũng phải có lòng bi mẫn với họ và cũng là để bảo vệ thân, khẩu, ý thanh tịnh cho tất cả!

        Cảm ơn các bạn đã dành thời gian chia sẻ từ tấm lòng của mình!

        Chúc các bạn luôn chánh niệm, chánh kiến và thân tâm thường an lạc!

        P/s: Xin dâng tặng các bạn câu minh chú Bát Nhã (Phạn ngữ Bát Nhã là Prajna Paramita – Trí Tuệ Vượt Bờ Bên Kia)

        Gate Gate ParaGate ParaSamGate Bodhi Svaha

        Tạm dịch ý: Vượt qua, Vượt qua, Vượt qua nữa, Vượt qua cả bờ bên kia, hãy như thế hỡi hành giả giác ngộ!

        (Việt mình phiên âm câu Phạn gốc trên là: yết đế, yết đế, bala yết đế, bala tăng yết đế, bồ đề tát bà ha)

  2. Cảm ơn bạn Phật Tại Tâm đã dành thời gian ghé thăm và đọc bài viết! Đây là 1 bài sưu tầm mang tính tham khảo ở diện tổng quan! Vì nó là nguồn sưu tầm nên chủ thớt cũng không có ý kiến gì!

    Bằng cái hiểu trong khả năng của mình, chỉ mạn phép trao đổi cùng bạn đôi lời! Những điều bạn hiểu rất là sáng rõ và có những sự suy niệm của riêng bản thân mình, đó là sự nghiêm túc của bạn trong tu tập, nghiên cứu! Và bản thân mình, tôi cũng có những suy niệm giống bạn vậy!

    Tôi thích nickname của bạn và đó là tất cả nhưng cũng là vô số thể nghiệm khác nhau của mỗi người. Khi học giáo lý Nguyên Thủy, hành giả có những thể nghiệm và sự chấp nhận giáo lý, kinh sách theo thể nghiệm đó! Khi học giáo lý Đại Thừa, hành giả lại có những quan kiến riêng theo thể nghiệm đó! Và khi học giáo lý Kim Cương Thừa, hành giả lại có những quan kiến riêng nữa.

    Và tu thì khởi nguồn là thoát khổ và tìm an lạc như bạn nói. Nên ai thấy an lạc thì đó là giải thoát. Nhưng xin bổ sung, khi nhìn vào sự thật, ta ko thể nói 1 ông đang giàu có, ăn chơi phóng đãng sướng như tiên, như giời nhờ ác nghiệp vơ vét, vọng động là giải thoát, bởi khi ông ấy đọc cái này nói, ôi, vậy tôi giải thoát rồi, vì với tôi, tôi thấy thế này là an lạc lắm, sướng lắm, ko khổ gì đâu.

    Không thể nói 1 chư thiên ở các cõi trời, hưởng thụ thú vui do tâm cảnh, nghiệp cảnh tạo ra các cung điện lầu đài, thiên nữ, thỉnh thoảng tới pháp hội cúng dường lấy Phước báu, còn ko chịu tu thiền định, khổ hạnh và học chánh kiến như chính con đường Đức Thích CA Mâu NI đã đi và dạy lại cho các đệ tử, là an lạc, là giải thoát, vì khi hết phước, 7 ngày trước rớt xuống các cõi thấp hơn, các chư thiên đau khổ đến cùng cực, ko khác gì những vị đại gia ở cõi người, quen làm vua chúa, đến khi hết phước, bị nợ nần truy sát, bị dè bỉu, trả thù bởi nghiệp thì có thể nói an lạc, giải thoát này ko phải cái an lạc của Đức Phật. Và giải thoát của thế gian, khác với giải thoát của Đạo Phật. Với thế gian, ông ăn mày đói có bát cơm, thì đó cũng là giải thoát rồi.

    Về Thanh Văn thì khác Duyên Giác. Thanh Văn là những vị nghe giáo lý Đức Phật, sau đó Văn Tư Tu theo. Họ có thầy là Phật. Khi vào định, trải qua những cấp thể nghiệm định, họ sẽ đi qua 4 giai đoạn Tư Đà Hoàn, Tu Đà Hoàn, A Na Hàm và A La Hán.

    DUyên giác là những bậc kiếp đó có thể ko có thầy, ko gặp Phật, họ có thể tự quan sát cùng tột những sự vật, sự việc 1 mình, suy nghiệm rồi hiểu chân lý duyên khởi tương sinh theo cách của mình. Nét khác biệt là THanh Văn vẫn có Thầy bên ngoài ,dựa vào Thầy bên ngoài, còn DUyên Giác thì có thể là Thanh Văn, nhưng kiếp sau của họ, họ ko gặp dc Phật nên chỉ tự mình suy niệm, quán chiếu, họ tưởng mình tự ngộ ko cần Phật, ko cần Thầy (nhưng nhìn dc dòng nghiệp sẽ thấy họ đã từng có)

    Phật pháp hiện ở thời Mạt pháp, nên chuyện có tam sao thất bản là thường tình, bởi chính Đức Phật cũng tiên tri trước chuyện này. Đơn giản 1 ví dụ, Nam Mo A Di Đà Phật. Từ Phạn gốc là Namo Amitabha. Khi sang Trung Quốc, họ đọc Namo Amitopho. SAng mình thành A Di Đà Phật. Tôi ko có ý kiến là tốt hay ko tốt, nhưng về âm học, ngữ âm thì có sự khác nhau, ko đúng gốc. Bởi lý thường Napoleon mà sang Việt Nam, bà con gọi Nã Phá Luân ơi thì chắc ông ta ko quay lại vì đó ko phải là tên ông a. Nói vui vậy, Phật thì có khác, linh tại ngã, bất linh tại ngã, hễ có cảm thì sẽ có ứng, nhưng nếu ai học về thanh nhạc Opera và âm học, thì mỗi âm thanh đều có tần số dao động riêng, ứng với mức năng lượng riêng.

    1 vị thầy Đại Thừa đúng đắn sẽ ko bao giờ chê bai hay phỉ báng các thừa Phật giáo đúng khác. Nhưng để bảo vệ Phật tử vì lòng bi, họ có thể như các hộ pháp thông báo, công kích những ai tu sai và có tà kiến, như ai mượn lời Phật để thu hút tín đồ, nhưng đằng sau làm chuyện bậy bạ (tham tiền cúng dường, tranh đua chức quyền, lạm dụng nữ phật tử…). Còn bậc thầy đúng ko bao giờ chê bai, công kích các thừa Phật giáo khác đặc biệt là trong Kim Cương Thừa, bởi trong đó có nói rất rõ, 1 người học Phật trước tiên phải học Nguyên Thủy để hiểu dc Tứ Niệm Xứ. Tứ Diệu Đế, Vô Ngã, Lý Duyên Khởi…. Khi tu chứng những điều này (chỉ đọc và hiểu chưa đủ mà phải hành để tự chứng) Sau đó mới đi vào Đại Thừa học Tánh KHông và Bồ Đề Tâm (tâm thành Đạo vì tha nhân). Giúp người phải có phương tiện, cứ thế khi đã hoàn thành thực chứng Đại Thừa, ắt sẽ tới Kim Cương Thừa. Vậy, ko có chuyện cái này bác bỏ bài xích cái kia, nếu có đó là tâm tự mỗi người hiển lộ theo nghiệp và duyên riêng.

    Nguyên Thủy cũng ko thể phủ nhận Đại Thừa hay Kim Cương Thừa, ko thể kết luận có 1 Phật, hay nhiều Phật, có Bồ Tát hay ko có Bồ Tát, nếu chánh niệm và thận trọng, bởi chính Đức Thế Tôn đã từng ngắt 1 nắm lá rồi hỏi, Lá trong tay Ta nhiều hay lá trong rừng nhiều? Các đệ tử nói lá trong rừng nhiều! Rồi Ngài nói, những điều Ta thấy như lá trong rừng, những điều Ta nói và dạy dc cho các ông là nắm lá trên tay Ta.

    Nên ko có gì cần chấp nhận hay chối bỏ cả, tự tâm thênh thang, ko vướng mắc ấy là 1 phần của câu chuyện giải thoát rồi!

    Nhân quả rất đa dạng nên có khi đập tượng Phật là phạm khi tâm kẻ đó ngạo mạn, báng bỏ những giá trị đạo hạnh trong hình tượng. Có khi đập tượng Phật lại là giác ngộ khi tâm người đó ngộ ra lòng tham cầu, bám chấp của mình, hàng ngày cầu xin đủ thứ ở các hình tượng, mà ko chiu nghe lời Phật, nhìn vào Phật tánh, tìm Phật vốn trong tâm mình mà các hình tượng là phương tiện, hình mẫu để mình tìm ông Phật thật đó thì nay con xin đập cái tâm tham của con – nằm ở hình tượng thì tâm ko mạn, mà ngộ thì có khi đập tượng lại là đúng. Nhưng nếu mình đập dù đúng nhưng lại để người khác như như chúng hữu hình, vô hình nào nhìn thấy, họ ko thấy tâm mình ngộ mà lại hiểu lầm mình ngạo mạn, báng bổ, họ khởi tâm ghét mình, muốn trừng phạt mình thì vậy mình lại tự gây nghiệp cho mình. Cùng 1 hành động ở ngữ cảnh khác nhau nó vô cùng đa dạng, trùng trùng duyên khởi nên Phật vẫn nói mọi thứ đều ko có tự tánh là tốt hay là xấu. Nhưng dù sự chứng ngộ của con có rộng sâu như bầu trời thì hãy thật thận trọng với hành vi thiện ác của con tới mức chi tiết nhất, còn ko con sẽ còn thể nghiệm những đau khổ, dù biết nó vốn là như huyễn.

    Lời bình luận của bạn rất hay, thực sự là vậy, tôi chỉ xin cùng trao đổi những suy niệm, thể nghiệm riêng của mình cùng bạn! Ở đây chúng ta cùng học hỏi với nhau, ko có ý niệm của đúng hay sai, nên hay ko nên, mà tự tâm mỗi người lựa chọn thể nghiệm, cách thức, con đường riêng phù hợp!

  3. Pháp môn của Phật không nằm ngoài 3 chữ: GIỚI – ĐỊNH – TUỆ! Chúc các sư huynh đệ tu tập tinh tấn, tâm bất động thanh thản an lạc và vô sự! :)

  4. Cảm ơn bạn Le nguyen Quynh, cái comment tôi để lại ko phải để bình luận các kiến thức của bạn về Thanh Văn và Duyên Giác ( vì cảm thấy khá chính xác, giống như những gì tôi từng được dạy) mà để lại cho bạn Phat Tai Tam. Như chúng ta đều biết, thế gian vốn nhiều hạng người nên để tiện việc độ trì, Phật đã chế ra nhiều Pháp môn để đưa chúng sinh thoát khỏi mê đắm. Ví các Pháp môn như thuyền, xe, tàu hỏa, máy bay…Ai hợp phương tiện nào thì sử dụng phương tiện ấy. Trong đó, Phật Tại Tâm có nêu lên ý kiến của mình, thì cũng là lẽ thường và tôi sẽ tôn trọng điều ấy nếu như ko có đoạn “vì thế, tôi xin khẳng định, ko cần niệm đủ thứ loại Phật, đi chùa, mua cúng đồ đạc”. Vì đây là lời bình luận mang tính chủ quan cá nhân mà sử dụng lời chắc như đinh đóng cột “khẳng định”. Tôi cảm thấy lời này rất hàm hồ, bài Tịnh Độ( vì Tịnh Độ hướng Niệm Phật, trì Ngũ Giới, hành Thập Thiện mà cụ thể là cúng dường Phật, Pháp,Tăng, hành trì danh hiệu Tây Phương Tam Thánh). Nên tôi mạn phép có lời phản hồi với bạn ấy. Tránh để người sa cơ ko hiểu kĩ lưỡng mà từ bỏ niệm Phật, cúng dường Tăng Già thì thật đáng tiếc. Còn bạn ấy tu tập theo thức gì là việc cá nhân, riêng tư , nên tôi ko có ý kiến gì, chỉ mong bạn ấy sử dụng ngôn từ thận trọng hơn, ko nên có ý bài xích, chia rẽ quần thể Phật Tử.

  5. Cho tôi xin lỗi việc cắt ngang cuộc đàm thoại của các vị !!!
    Và cho tôi có nghi vấn về vấn đề của thiện tri thức (Le Nguyen Binh) như sau:
    Tôi biền ngẫm cái đoạn Độc giác và Duyên giác mà tôi cảm nhận rất mơ hồ giữa sự khác nhau ở hai danh vị này ví như:
    – A la hán là thời được PHẬT độ mà chứng (khác với) Duyên giác là thời tự mình ngộ
    đạo mà chứng không gặp được PHẬT truyền đạo ở hiện tại.
    -Còn Duyên giác với Độ giác (giống nhau) ở chỗ tu tự mình tu chứng thời không gặp
    Phật (khác nhau) ở chỗ Duyên giác chứng quả giống Alahán ở bất kỳ nơi nào trong
    mười pháp giới còn Độc giác thì chứng quả giống Alahán bắt buộc phải ở nhân gian
    có phải vậy không thiện nam tử???

    • Câu bạn nghi vấn chỉ về 2 quả vị thôi: A La Hán và Duyên Giác.

      1. – Duyên Giác hay Độc Giác là 1 quả vị, danh xưng khác nhau nhưng là 1. Duyên Giác nghĩa là vị này nhờ quán chiếu lý nhân duyên mà ngộ. Độc Giác là vị này thường ở trong sự suy tư 1 mình, tự quán chiếu sự vật, hiện tượng, nhân duyên.

      2. A La Hán là bậc gặp được Đức Phật chỉ dẫn, tu tập theo giáo pháp chỉ dẫn của Đức Phật ấy, khi nhận giáo lý rồi tìm nơi thanh vắng, cô tịch tu tập rồi từng bước đắc 4 quả vị Thanh Văn là: Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hoàn, A Na Hàm và cao nhất là A La Hán. Thanh văn là những vị nghe giáo lý Đức Phật rồi suy ngẫm và thực hành.

      2 vị này khác nhau ở chỗ đời hiện tại, A La Hán gặp Phật và được Phật chỉ dẫn hoặc đọc sách Phật để tu. Còn Duyên giác hay Độc Giác đời dc gọi là DUyên Giác đó thì tự mình nghiên cứu, quan sát để hiểu chân lý. Nhìn qua thì tưởng Duyên Giác ko học Phật, nhưng thực sự thì nhiều vị DUyên Giác các đời trước vốn là các Thanh Văn, ở trong 4 quả vị Thanh Văn đã nói ở trên, cũng học Phật và đọc sách Phật, nhưng đời này tái sinh lại do nghiệp riêng mà vào đúng thời không có Phật, họ vẫn tìm trí tuệ Phật pháp như các đời trước đó nhưng ko có Phật nên họ tự ngồi suy tư và các dấu ấn học Phật trước đó hiện lên, họ hiểu lý duyên khởi mà giác ngộ. Họ và người ngoài nhìn vào đời hiện tại thì tưởng họ ko cần Phật mà vẫn ngộ, nhưng truy nguyên thì là chặng đường tiếp theo của các đời trước học Phật!

      Ở nhân gian hay không là do sự tự ngộ của người đó về chân tâm hay bản tánh của chính họ!

      Ai cho rằng mình là thân xác này, chết chỉ ở quanh cái gì liên quan đến xác thân vật chất họ tin là của họ, Nên nhiều vong linh lúc chết, hình hài dập khuôn y như lúc còn sống.

      Ai cao hơn 1 chút hiểu mình ko phải là xác này mà cái phần khác, gọi là hồn hay thần thức thì lúc chết tùy vào nghiệp, niềm tin mà có thân năng lượng vi tế theo tâm họ nghĩ. Như làm thiện đức thì thân sáng đẹp như các chư thiên hay thiên thần, ai tự ti, đau khổ, làm ác thì hình hài xấu xa như ma quỷ. HỌ sẽ kẹt trong cảnh giới năng lượng là các cõi Atula hay các cõi Thiên.

      Ai cao hơn nữa hiểu mình là từ cái vô vi mà ra nên biến hóa nhiều kiếp nhiều hình hài từ thô đến vi tế, mà trụ trong cái KHông, vô vi thì thành các vị Thiên trong cõi Vô Sắc – Không Sắc Tướng.

      Tâm ở đâu thì cảnh giới ở đó.

      Còn bậc học Phật – Buddha là Tỉnh giác. Là Biết cái KHông và cái Có là 1, là ko thể chia tách. Sinh Tử và Niết Bàn vốn không có hai mà là 1 trong Bản Tánh Chân Tâm Lặng Thinh, Trong Veo, VÔ Tự Tánh Nhưng Lạ Vô Cùng Tỉnh Giác, Sáng Tạo như họa sĩ khéo, vẽ thế giới muôn màu!

      Giải thoát của Phật là nhớ ra, khám phá ra mình vốn giải thoát rồi, mình là Phật tánh rồi và mình không hề chia tách với thế giới,chúng sinh bên ngoài mà tâm mình tiếp nhận, nhìn thấy đó. Nên Vô Ngã phát sinh, Từ Bi tự nhiên và thành ĐẠo VÔ Thượng Bồ Đề để hoàn thành 2 pháp Độ Mình và ĐỘ Người!

      Đây là cái hiểu hạn hẹp trong tâm trí của tôi, xin chia sẻ cùng bạn!

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s